Vậy người nước ngoài cần đáp ứng những điều kiện nào? Giấy phép lao động phải được cấp cho doanh nghiệp nào? Trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động được xử lý ra sao?
Theo Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP, người tham gia bán hàng đa cấp phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và cư trú tại Việt Nam.
Đối với người nước ngoài, doanh nghiệp bán hàng đa cấp không được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với người không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp gắn với doanh nghiệp mà người đó tham gia bán hàng đa cấp, trừ trường hợp người đó không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định pháp luật.
Như vậy, người nước ngoài muốn tham gia bán hàng đa cấp tại Việt Nam cần đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Cư trú tại Việt Nam;
Có giấy phép lao động tại Việt Nam gắn với doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà mình tham gia, nếu thuộc diện phải có giấy phép lao động;
Trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động thì phải đáp ứng các điều kiện, thủ tục tương ứng theo pháp luật về lao động nước ngoài;
Không thuộc các trường hợp pháp luật cấm tham gia bán hàng đa cấp.
Ngoài ra, Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP còn quy định một số trường hợp doanh nghiệp không được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, như người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về một số tội danh theo quy định; người từng giữ một số chức vụ, vị trí tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động; hoặc một số nhóm cán bộ, công chức, sĩ quan, quân nhân và đối tượng khác thuộc trường hợp pháp luật hạn chế.
Theo Điều 29 Nghị định 137/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp bằng văn bản và giao hợp đồng cho người tham gia.
Hợp đồng phải có các nội dung cơ bản gồm:
Tên doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật và thông tin liên hệ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp;
Họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi ở hiện tại, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng, số thẻ căn cước, căn cước công dân hoặc số hộ chiếu của người tham gia;
Đối với người nước ngoài thuộc diện phải có giấy phép lao động, hợp đồng phải ghi nhận số giấy phép lao động theo quy định;
Họ tên và mã số của người giới thiệu hoặc người bảo trợ;
Thông tin về hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp;
Thông tin về kế hoạch trả thưởng và quy tắc hoạt động;
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp và người tham gia;
Quy định về việc thanh toán hoa hồng, tiền thưởng bằng hình thức chuyển khoản qua ngân hàng;
Quy định về việc mua lại hàng hóa;
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng và nghĩa vụ phát sinh khi chấm dứt;
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên.
Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp phải được lập bằng tiếng Việt, sử dụng cỡ chữ ít nhất là 12 và màu chữ phải tương phản với màu nền.
Trường hợp sử dụng hợp đồng điện tử, doanh nghiệp phải lưu trữ hợp đồng trên hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia và bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Việc ký hợp đồng không đồng nghĩa với việc người tham gia được ngay lập tức thực hiện các hoạt động tiếp thị, bán hàng hoặc phát triển mạng lưới.
Theo Nghị định 137/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp phải tổ chức chương trình đào tạo cơ bản cho người tham gia bán hàng đa cấp. Chương trình đào tạo này là bắt buộc, có thời lượng tối thiểu 06 giờ và doanh nghiệp không được thu phí dưới bất kỳ hình thức nào.
Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức đào tạo trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng. Người tham gia cũng phải hoàn thành chương trình đào tạo trong thời hạn này.
Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo cơ bản và đáp ứng các điều kiện theo quy định, người tham gia được doanh nghiệp cấp xác nhận hoàn thành chương trình đào tạo.
Doanh nghiệp chỉ được cấp Thẻ thành viên cho người đã hoàn thành chương trình đào tạo cơ bản và thực hiện đầy đủ các yêu cầu liên quan, bao gồm việc nộp bản cam kết theo quy định.
Chỉ sau khi được cấp Thẻ thành viên, người tham gia mới được thực hiện hoạt động tiếp thị, bán hàng và phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp.
Người tham gia bán hàng đa cấp có quyền được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh và kế hoạch trả thưởng đã được doanh nghiệp công bố theo quy định.
Bên cạnh các quyền lợi này, người tham gia phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo Điều 41 Nghị định 137/2026/NĐ-CP.
Một số trách nhiệm đáng chú ý gồm:
Lưu giữ hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
Chỉ thực hiện hoạt động tiếp thị, bán hàng và phát triển mạng lưới sau khi được cấp Thẻ thành viên;
Xuất trình Thẻ thành viên trước khi giới thiệu, tiếp thị hoặc bán hàng;
Tuân thủ hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp;
Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về doanh nghiệp, hàng hóa, kế hoạch trả thưởng và quy tắc hoạt động;
Không cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng và người tham gia khác;
Tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan trong quá trình tham gia hoạt động bán hàng đa cấp.
Đối với người nước ngoài, trong quá trình tham gia còn phải bảo đảm tình trạng pháp lý liên quan đến giấy phép lao động hoặc trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động phù hợp với quy định pháp luật.
Trước khi ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với người nước ngoài, doanh nghiệp cần kiểm tra đầy đủ điều kiện pháp lý của người dự kiến tham gia.
Đặc biệt, doanh nghiệp cần lưu ý:
Thứ nhất, kiểm tra điều kiện cư trú tại Việt Nam.
Người tham gia bán hàng đa cấp phải là người cư trú tại Việt Nam theo yêu cầu của Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP.
Thứ hai, kiểm tra tình trạng giấy phép lao động.
Nếu người nước ngoài thuộc diện phải có giấy phép lao động thì giấy phép này phải được cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cấp và phải gắn với chính doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà người đó tham gia.
Trường hợp người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động, doanh nghiệp cần kiểm tra căn cứ pháp lý và các giấy tờ, thủ tục tương ứng theo pháp luật về người lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ ba, ghi nhận đầy đủ thông tin trong hợp đồng.
Thông tin hộ chiếu, nơi ở, số tài khoản ngân hàng và số giấy phép lao động của người tham gia, nếu thuộc trường hợp phải có giấy phép, phải được ghi nhận chính xác trong hợp đồng.
Thứ tư, chỉ cho phép hoạt động sau khi hoàn tất đào tạo và cấp Thẻ thành viên.
Doanh nghiệp không nên để người tham gia thực hiện hoạt động tiếp thị, bán hàng hoặc phát triển mạng lưới khi chưa hoàn tất các điều kiện theo quy định.
Ngoài ra, doanh nghiệp bán hàng đa cấp vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ chung như công khai thông tin hoạt động, thực hiện đúng kế hoạch trả thưởng, quy tắc hoạt động đã đăng ký, cập nhật thông tin hàng hóa và thực hiện các chương trình đào tạo theo quy định.
Doanh nghiệp chỉ nên hoạt động tiếp thị, bán hàng sau khi đã hoàn tất đào tạo và cấp thẻ thành viên
Tùy từng trường hợp.
Nếu người nước ngoài thuộc diện phải có giấy phép lao động nhưng không có giấy phép lao động tại Việt Nam gắn với doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà mình tham gia thì doanh nghiệp không được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với người đó.
Ngược lại, nếu người nước ngoài thuộc trường hợp không phải cấp giấy phép lao động theo quy định pháp luật thì yêu cầu phải có giấy phép lao động không được áp dụng. Người đó vẫn phải đáp ứng các điều kiện khác về cư trú, năng lực hành vi dân sự và không thuộc trường hợp bị cấm.
Không đáp ứng điều kiện theo Nghị định 137/2026/NĐ-CP.
Giấy phép lao động phải được cấp gắn với doanh nghiệp mà người nước ngoài tham gia bán hàng đa cấp. Vì vậy, giấy phép lao động được cấp gắn với một doanh nghiệp khác không đáp ứng điều kiện để doanh nghiệp bán hàng đa cấp ký hợp đồng với người đó.
Điều này không có nghĩa giấy phép lao động đã được cấp là không hợp pháp, mà chỉ có nghĩa giấy phép đó không đáp ứng điều kiện để tham gia bán hàng đa cấp tại doanh nghiệp khác.
Có thể.
Nghị định 137/2026/NĐ-CP cho phép ngoại lệ đối với người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Tuy nhiên, tùy từng trường hợp cụ thể, người nước ngoài có thể phải thực hiện thủ tục đề nghị xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động hoặc chỉ phải thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về lao động nước ngoài.
Do đó, doanh nghiệp cần xác định chính xác người nước ngoài thuộc trường hợp nào trước khi ký hợp đồng.
Thẻ tạm trú không thay thế giấy phép lao động.
Người nước ngoài có thẻ tạm trú vẫn phải đáp ứng các điều kiện khác theo Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP.
Nếu thuộc diện phải có giấy phép lao động thì người đó phải có giấy phép lao động gắn với doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà mình tham gia. Trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động thì phải đáp ứng các quy định tương ứng về lao động nước ngoài.
Không.
Khoản 1 Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định người tham gia bán hàng đa cấp phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và cư trú tại Việt Nam.
Vì vậy, người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam không đáp ứng điều kiện để trở thành người tham gia bán hàng đa cấp tại Việt Nam.
Từ ngày 01/7/2026, người nước ngoài muốn tham gia bán hàng đa cấp tại Việt Nam phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Nghị định 137/2026/NĐ-CP.
Trong đó, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý hai vấn đề là tình trạng cư trú tại Việt Nam và giấy phép lao động của người nước ngoài. Nếu người nước ngoài thuộc diện phải có giấy phép lao động thì giấy phép phải được cấp gắn với chính doanh nghiệp bán hàng đa cấp mà người đó tham gia. Trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động thì cần xác định đúng căn cứ pháp lý và thủ tục tương ứng.
Việc kiểm tra đầy đủ điều kiện trước khi ký hợp đồng không chỉ giúp bảo đảm quyền lợi của người tham gia mà còn giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình tổ chức và quản lý mạng lưới bán hàng đa cấp.
12A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định (Phường Đa Kao, Quận 1 cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình (Phường Trúc Bạch, Quận Ba Đình cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
144 Hoàng Hoa Thám, Phường Nha Trang (Phường Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01