Trong thời đại công nghệ thông tin và chuyển đổi số phát triển nhanh chóng như hiện nay, thông tin trở thành một tài sản đặc biệt. Thông tin có thể là một thứ vô cùng rẻ mạt, được chia sẻ, bày bán tràn lan trên không gian mạng. Nhưng lại có những thông tin vô cùng quan trọng, đắt giá, được bảo vệ kỹ càng mang yếu tố sống còn của một cá nhân, tổ chức kinh doanh nào đó.
Nhằm để bảo vệ tốt nhất các thông tin giá trị này, các cá nhân, tổ chức kinh doanh tìm kiếm và thực hiện nhiều cách thức khác nhau. Một trong số đó mang lại hiệu quả thực tế là Thỏa Thuận Bảo Mật Thông Tin.
Thỏa thuận bảo mật thông tin (hay được biết đến bằng thuật ngữ tiếng Anh là “non-disclosure agreement”, viết tắt là NDA) là một dạng thỏa thuận nghe có vẻ xa cách, chỉ thường bắt gặp trong những trường hợp đặc biệt nhưng thực tế lại hết sức gần gũi trong cuộc sống hàng ngày. Đây là thỏa thuận giữa các bên nhằm cam kết với nhau về việc bảo mật thông tin.
Bạn có nhờ những lần chẳng cần đến 01 giây suy nghĩ để nhấn “Đồng ý” với điều khoản bảo mật thông tin khi đang sử dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo,… Bạn có nhớ đã nhanh chóng bỏ qua những điều khoản “Bảo mật - Confidentiality” ở cuối các hợp đồng giản đơn hằng ngày như hợp đồng vay, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm,… rồi đặt bút ký luôn. Qua đó, có thể nhận thấy rằng, tuy cái tên xa lạ, cao cấp như nhiều người vẫn mường tượng thì thỏa thuận bảo mật thông tin lại vô cùng gần gũi với chúng ta, đặc biệt là trong thời đại thông tin như hiện nay.
Trong bài viết này, người viết muốn giới thiệu, bàn luận về một dạng Thỏa thuận Bảo mật Thông tin đặc thù mà có thể những người trường thành đã đi làm sẽ ít nhiều gặp phải, hay thậm chí giao kết rất nhiều lần trong cuộc đời đi làm, đó là Thỏa Thuận Bảo mật Thông tin trong quan hệ lao động.
Thỏa thuận “Không Cạnh Tranh” được hiểu là thỏa thuận mà người lao động sẽ từ bỏ quyền làm việc tại các doanh nghiệp và lĩnh vực có khả năng cạnh tranh với người sử dụng lao động, công ty mà họ đang làm việc.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận đến thỏa thuận bảo mật và thỏa thuận không cạnh tranh giữa 2 chủ thể là người lao động và người sử dụng lao động (các doanh nghiệp, thương nhân, tổ chức có sử dụng người lao động) dưới khía cạnh pháp luật. Đồng thời, tác giả sẽ cung cấp thông tin về thực tiễn giải quyết tranh chấp và xét xử của Tòa án Việt Nam về vấn đề các thỏa thuận trên như thế nào nhằm giúp người đọc có thêm các kiến thức và cơ sở lý luận để áp dụng vào thực tiễn.
Phương pháp thiết kế thỏa thuận bảo mật
Thỏa Thuận Bảo Mật Thông Tin trong quan hệ lao động là thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động về việc bảo mật thông tin được xác lập trong quá trình các bên tham gia quan hệ lao động.
Việc giao kết thỏa thuận này thường được đưa ra bởi người sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ thông tin của doanh nghiệp, hạn chế việc người lao động tiết lộ các thông tin quan trọng của doanh nghiệp mà người lao động tiếp cận được làm gây ảnh hưởng xấu đối với doanh nghiệp về nhiều phương diện khác nhau.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định “Thông Tin Mật” ở nhiều chế định pháp luật khác nhau, trong đó gồm nhóm thông tin mật của cá nhân và nhóm thông tin mật của tổ chức.
Theo đó, khi tham gia quan hệ lao động và xác lập thỏa thuận liên quan đến bảo mật thông tin thì Thông Tin Mật đơn giản là bất kỳ thông tin nào các bên thỏa thuận là thông tin mật. Sự thỏa thuận về thông tin mật được thực hiện trong chừng mực phù hợp với quy định pháp luật và sẽ có các trường hợp ngoại lệ (được giải thích chi tiết tại phần sau của bài viết này).
Thông thường, các Thông Tin Mật này thuộc ít nhất một trong các nhóm loại thông tin sau đây:
Thứ nhất, các thông tin mà doanh nghiệp/ người sử dụng lao động nhận thấy là quan trọng mà các đối thủ cạnh tranh hoặc các doanh nghiệp khác không dễ dàng có được; và việc sử dụng các thông tin này trong hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên ưu thế nhất định cho người nắm giữ thông tin.
Đối với nhóm các thông tin này thì có các quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh như sau:
(i) Ngày 10/10/2015, bà Trang ký HĐLĐ xác định thời hạn 12 tháng với Recess ở vị trí trưởng bộ phận tuyển dụng.
(ii) Ngày 21/10/2015, bà Trang ký tiếp NDA với Recess. Trong thỏa thuận này có điều khoản quy định trong thời gian 12 tháng sau khi chấm dứt tuyển dụng hoặc kết thúc việc làm với Recess, không xét đến nguyên nhân chấm dứt HĐLĐ, NLĐ không được làm những công việc tương tự ở các DN có cùng lĩnh vực kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh hoặc những đơn vị liên kết, đối tác của công ty, nếu vi phạm, NLĐ sẽ phải bồi thường.
(iii) Ngày 01/11/2016, bà Trang ký tiếp HĐLĐ xác định thời hạn 12 tháng với công ty và nghỉ việc vào ngày 18/11/2016.
(iv) Đến ngày 02/10/2017, phát hiện bà Trang đang làm việc cho một DN kinh doanh cùng lĩnh vực, công ty đã lập vi bằng và khởi kiện bà Trang tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), yêu cầu bồi thường 3 tháng tiền lương vì vi phạm thỏa thuận NDA.
(v) VIAC đã ra Phán quyết số 75/17 ngày 19-2-2018 buộc bà Trang bồi thường cho công ty hơn 205 triệu đồng.
(vi) bà Trang đã gửi đơn ra tòa yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài vì cho rằng NDA là một phần không thể tách rời của HĐLĐ nên tranh chấp về NDA là tranh chấp lao động và sẽ do tòa án giải quyết, không thuộc thẩm quyền giải quyết của VIAC.
(vii) Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 755/2018/QĐ-PQTT ngày 12/6/2018 không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của bà Trang với nhận định là nội dung án lệ của Án lệ số 69 như sau:
“[8] ...Bà T cho rằng “Tranh chấp về NDA là tranh chấp sẽ do Tòa án giải quyết”. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”.Công tyR là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại 2005. Do đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết của VIAC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nội dung này đã được Hội đồng trọng tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phần A, trang 5 và Phần C, trang 6 của Phán quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”. Trong khi đó, tại Bản tự bảo vệ cũng như trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, bà T không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyền của trọng tài mà vẫn tiếp tục tố tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T đã mất quyền phản đối về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP. Bên cạnh đó, bà T cho rằng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì NDA là một phần không thể tách rời của các Hợp đồng lao động giữa bà T và Công ty R. Tại đoạn 11 Bản luận cứ đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T đã khẳng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công tyR và bà T. Do đó, Hội đồng xét đơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết.”
Cần phải làm rõ ngay từ đầu, Án lệ số 69 có nội dung án lệ dài, đưa ra nhiều lập luận, cơ sở pháp lý để quyết định xem xét thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại trong một vụ việc tranh chấp Thỏa Thuận Bảo Mật Thông Tin và không cạnh tranh. Đây là không phải một án lệ nhằm đưa ra ví dụ điển hình cho một điều luật cụ thể (như Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn theo Điều 306 Luật Thương mại 2005[6], Án lệ số 55/2022/AL về công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015). Mà Án lệ số 69 đưa ra một giải pháp pháp lý áp dụng trong những tình huống tượng tự hoặc trong cách nhìn nhận về một Thỏa Thuận Bảo Mật Thông Tin.
Nội dung Án lệ số 69 đưa ra nhiều trích dẫn, cơ sở pháp lý khác nhau để đi đến kết luận “thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết”, mà theo người viết là giải pháp pháp lý chính của Án lệ này.
Để đi đến kết luận trên, Hội đồng xét đơn đã dựa vào các lập luận và cơ sở pháp lý sau:
(i) Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”
(ii) Mất quyền phản đối về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP
(iii) Thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh là thỏa thuận độc lập hoàn toàn với Hợp đồng lao động.
Từ đó, Án lệ số 69 đã đưa ra giải pháp pháp lý rõ nét về việc Thỏa Thuận Bảo Mật Thông Tin là một thỏa thuận độc lập, được điều chỉnh bởi quan hệ dân sự chứ không bị ràng buộc bởi quan hệ lao động. Do vậy, cũng có thể được giải quyết bởi trọng tài thương mại khi phát sinh tranh chấp.
Theo quan điểm của người viết, đây là một góc nhìn cấp tiến. Vì về mặt lý luận, khi Bên nhận thông tin trong Thỏa Thuận Bảo Mật Thông Tin ký kết thỏa thuận thì không bị ràng buộc vì họ là người lao động trong quan hệ lao động, mà đơn giản vì họ được tiếp cận thông tin. Do đó, phát sinh nghĩa vụ phải bảo mật các thông tin này, kể cả khi không hoặc không còn là người lao động.
Đồng thời, đây là cũng một cách hiểu hoàn toàn phù hợp đã được pháp luật lao động thừa nhận, quy định rất rõ tại khoản 3 Điều 4 Bộ luật Lao động 2019: “Khi phát hiện người lao động vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động bồi thường theo thỏa thuận của hai bên. Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường được thực hiện như sau:… Trường hợp phát hiện người lao động có hành vi vi phạm sau khi chấm dứt hợp đồng lao động thì xử lý theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan.”
Tại phần [6] nhận định của Tòa án tại Quyết định số 755, Hội đồng xét đơn đã được ra quan điểm mạnh mẽ về tính hợp pháp của phần “không cạnh tranh” của thỏa thuận bảo mật thông tin và hạn chế cạnh tranh như sau:
“bà T cho rằng NDA vi phạm quy định về quyền làm việc của người lao động, vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Việc làm năm 2013 mà Hội đồng trọng tài vẫn công nhận NDA là Hội đồng trọng tài đã vi phạm nguyên tắc tuân thủ pháp luật của người lao động cũng như điều cấm tại Luật Việc làm năm 2013. Xét thấy tại Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng””
Theo đó, Hội đồng xét đơn đã căn cứ nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận một cách tự nguyện để tại Điều 4 Bộ luật Dân sự 2005[7] (tương ứng với Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành) để thừa nhận hiệu lực và tính hợp pháp của thỏa thuận không cạnh tranh.
Đây được cho là nhận định có thể gây tranh cãi, bởi lẽ hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm cho rằng thỏa thuận chống cạnh tranh là xâm phạm quyền tự do việc làm, tự do kinh doanh của người lao động. Quan điểm của tác giả, việc thỏa thuận người lao động không làm việc cho các đối thủ không hoàn toàn xâm phạm quyền tự do, bởi vì ngoại trừ làm việc cho đối thủ cạnh tranh của chính doanh nghiệp mà người lao động cam kết, thì người lao động được phép làm việc cho tất cả doanh nghiệp còn lại trên thị trường.
Tuy nhiên, trong phạm vi Án lệ số 69, người đọc cần lưu ý rằng nhận định tại phần [6] không phải là nội dung án lệ nên chưa có giá trị để áp dụng tương tự pháp luật. Mặc dù vậy, việc nhận định của nguồn án lệ được ghi nhận trong án lệ cũng khiến nhận định này có sức nặng về quan điểm pháp lý đối với những người áp dụng pháp luật.
Án lệ số 69 được công bố được xem là một góc nhìn mới, phản ánh được sự nhìn nhận công bằng của các cơ quan tư pháp về thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh trong quan hệ lao động.
Án lệ này có thể sẽ mở ra một xu hướng mới làm gia tăng thêm sự tự tin trong việc ký kết các Thỏa thuận Bảo mật Thông tin tách biệt với hợp đồng lao động của các doanh nghiệp/người sử dụng lao động.
Qua việc thông qua và công bố của án lệ này, có thể thấy được sự nhìn nhận tiên tiến của các cơ quan tư pháp về các thỏa thuận mới được du nhập từ các nước có nền pháp luật đi đầu, gia tăng thêm sự hài hóa pháp luật giữa pháp luật Việt Nam và các nước phát triển trên thế giới.
Tài liệu và trích dẫn
[1] Điều 84 Luật Sở hữu Trí tuệ số 50/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (“Luật Sở hữu trí tuệ 2005”)
[2] Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 (“Bộ luật Lao động 2019”)
[3] Khoản 2 Điều 23 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 (“Bộ luật Lao động 2012”)
[4] Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (“Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH”)
[5] Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh được công bố tại Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao (“Án lệ số 69”)
[6] Luật Thương mại số 36/2005/QH11 được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 (“Luật Thương mại 2005”)
Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:
Hotline Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01
Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html
Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830
Website: https://luatsulh.com/
Văn phòng: Hồ Chí Minh | Hà Nội | Khánh Hòa
Theo dõi Công ty Luật LH Legal tại:
Website: https://luatsulh.com/
Facebook: Luật sư LH Legal
Youtube: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LH Legal)
Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự
|
|
|
12A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định (Phường Đa Kao, Quận 1 cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình (Phường Trúc Bạch, Quận Ba Đình cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
144 Hoàng Hoa Thám, Phường Nha Trang (Phường Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01