Theo Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động được nghỉ hằng năm và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động.
Số ngày nghỉ hằng năm được xác định tùy từng đối tượng:
12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, người lao động là người khuyết tật hoặc làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng thì số ngày nghỉ hằng năm được tính tương ứng với số tháng làm việc.
Ngoài ra, cứ đủ 5 năm làm việc cho cùng một người sử dụng lao động, số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được tăng thêm 1 ngày.
Vấn đề nhiều người quan tâm là nếu chưa sử dụng hết số ngày phép này thì có được nhận tiền hay không.
Theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, khi người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì người sử dụng lao động phải thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Như vậy, quyền được thanh toán tiền phép chưa nghỉ gắn với trường hợp người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.
Không phải trường hợp nào còn phép cũng được yêu cầu quy đổi thành tiền.
Đây là điểm rất dễ gây nhầm lẫn.
Ví dụ, một người lao động được hưởng 12 ngày phép trong năm nhưng đến cuối năm mới sử dụng 7 ngày và vẫn tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp.
Trong trường hợp này, không thể chỉ căn cứ vào việc còn 5 ngày phép để khẳng định doanh nghiệp bắt buộc phải trả tiền cho 5 ngày chưa nghỉ.
Bộ luật Lao động hiện hành quy định nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho ngày phép chưa nghỉ khi người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.
Người lao động cũng có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 3 năm một lần.
Do đó, cần phân biệt rõ giữa quyền nghỉ phép năm và quyền được thanh toán bằng tiền cho ngày phép chưa nghỉ khi chấm dứt việc làm.
Khi người lao động thôi việc hoặc bị mất việc mà vẫn còn ngày phép chưa sử dụng, doanh nghiệp phải thanh toán tiền lương tương ứng với số ngày chưa nghỉ.
Theo quy định hướng dẫn của Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tiền lương làm căn cứ thanh toán là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng liền kề trước tháng người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.
Có thể hiểu theo nguyên tắc:
Tiền phép năm được thanh toán = Tiền lương làm căn cứ tính cho một ngày làm việc × Số ngày phép năm còn lại.
Số tiền cụ thể vì vậy sẽ phụ thuộc vào tiền lương theo hợp đồng và số ngày nghỉ hằng năm người lao động chưa sử dụng.
Từ ngày 10/9/2026, Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực.
Theo khoản 2 Điều 23 Nghị định này, người sử dụng lao động có hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm có thể bị xử phạt.
Mức phạt được xác định theo số lượng người lao động bị vi phạm.
Vi phạm từ 1 - 10 người: phạt 5 - 10 triệu đồng.
Từ 11 - 50 người: phạt 10 - 20 triệu đồng.
Từ 51 - 100 người: phạt 20 - 30 triệu đồng.
Từ 101 - 300 người: phạt 30 - 40 triệu đồng.
Từ 301 người trở lên: phạt 40 - 50 triệu đồng.
Mức phạt áp dụng đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân.
Theo đó:
Vi phạm từ 1 - 10 người: phạt 10 - 20 triệu đồng.
Từ 11 - 50 người: phạt 20 - 40 triệu đồng.
Từ 51 - 100 người: phạt 40 - 60 triệu đồng.
Từ 101 - 300 người: phạt 60 - 80 triệu đồng.
Từ 301 người trở lên: phạt 80 - 100 triệu đồng.
Như vậy, mức phạt 100 triệu đồng là mức tối đa, áp dụng đối với tổ chức khi hành vi vi phạm liên quan từ 301 người lao động trở lên, chứ không phải cứ không thanh toán tiền phép cho một người lao động là doanh nghiệp sẽ bị phạt 100 triệu đồng.
Doanh nghiệp có thể bị phạt đến 100 triệu đồng nếu không thanh toán tiền cho những ngày phép năm chưa nghỉ của người lao động đã thôi việc
Khoản tiền phạt hành chính không thay thế nghĩa vụ trả tiền cho người lao động.
Ngoài việc bị xử phạt, doanh nghiệp vi phạm còn bị buộc trả đủ số tiền lương còn thiếu cho người lao động, đồng thời phải trả thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả hoặc trả thiếu.
Khoản tiền lãi được tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Điều này có nghĩa doanh nghiệp có thể đồng thời phải:
Nộp tiền phạt vi phạm hành chính;
Trả lại đầy đủ tiền phép còn thiếu cho người lao động;
và trả thêm tiền lãi do chậm thanh toán hoặc thanh toán thiếu.
Nghị định 283/2026/NĐ-CP không chỉ xử phạt hành vi không thanh toán tiền phép năm.
Cùng nhóm mức phạt trên còn có thể được áp dụng đối với nhiều hành vi vi phạm về tiền lương như:
Trả lương không đúng hạn;
Không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
Không trả đủ tiền làm thêm giờ;
Không trả đủ tiền lương làm việc ban đêm;
Không trả đúng tiền lương ngừng việc;
Khấu trừ tiền lương không đúng quy định;
Hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu tiền lương của người lao động;
Ép người lao động sử dụng tiền lương để mua hàng hóa, dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc đơn vị được chỉ định;
Không trả đủ tiền lương trong thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó không bị xử lý kỷ luật;
Không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng hoặc trong thời gian đình công.
Tùy số lượng người lao động bị vi phạm và chủ thể vi phạm là cá nhân hay tổ chức, mức phạt sẽ được xác định tương ứng.
Khi chấm dứt quan hệ lao động, người lao động nên kiểm tra lại tổng số ngày phép năm được hưởng, số ngày đã nghỉ và số ngày còn lại.
Nếu vẫn còn ngày phép chưa sử dụng, khoản tiền tương ứng cần được đối chiếu trong quá trình thanh toán các quyền lợi khi nghỉ việc.
Trường hợp doanh nghiệp không thanh toán hoặc thanh toán thiếu, người lao động có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải quyết và sử dụng các cơ chế bảo vệ quyền lợi theo quy định pháp luật lao động.
Về phía doanh nghiệp, đặc biệt với đơn vị có số lượng lao động lớn, việc quản lý dữ liệu phép năm và quyết toán quyền lợi khi người lao động nghỉ việc cần được thực hiện chính xác. Bởi ngoài khoản tiền phải thanh toán, hành vi vi phạm với số lượng lớn người lao động có thể dẫn đến mức phạt hành chính lên tới 100 triệu đồng và nghĩa vụ trả thêm tiền lãi.
Cần nhớ: Không phải phép năm chưa nghỉ nào cũng được đổi thành tiền
Có thể tóm tắt quy định bằng hai trường hợp:
Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng nghĩa vụ này, từ ngày 10/9/2026, mức xử phạt đối với tổ chức có thể lên tới 100 triệu đồng, tùy số lượng người lao động bị vi phạm.
Lưu ý: Bài viết chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin pháp lý, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng vụ việc cụ thể.
Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:
Hotline Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01
Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html
Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830
Website: https://luatsulh.com/
Văn phòng: Hồ Chí Minh | Hà Nội | Khánh Hòa
Theo dõi Công ty Luật LH Legal tại:
Website: https://luatsulh.com/
Facebook: Luật sư LH Legal
Youtube: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LH Legal)
Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự
|
|
|
12A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định (Phường Đa Kao, Quận 1 cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình (Phường Trúc Bạch, Quận Ba Đình cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
144 Hoàng Hoa Thám, Phường Nha Trang (Phường Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01