Chậm trả tiền đặt cọc có phải trả thêm lãi? Quy định mới từ ngày 15/10/2026
Trong các giao dịch mua bán nhà đất, ô tô hoặc những tài sản có giá trị lớn, các bên thường thỏa thuận một khoản tiền đặt cọc nhằm bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, khi giao dịch không thể tiếp tục, một bên có thể phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc cho bên còn lại.
Trên thực tế, không ít trường hợp bên nhận đặt cọc đã đồng ý hoàn trả nhưng liên tục trì hoãn, kéo dài thời gian thanh toán hoặc chỉ trả một phần số tiền đã nhận.
Điều này khiến người đặt cọc bị ảnh hưởng về tài chính, đặc biệt khi khoản tiền đặt cọc có giá trị lớn và bị chiếm giữ trong thời gian dài.
Vậy người nhận đặt cọc chậm hoàn trả tiền có phải trả thêm tiền lãi?
Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án xem xét, chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền đặt cọc theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, bên có nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc nhưng chậm thanh toán có thể phải trả thêm tiền lãi đối với khoản tiền chậm trả theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, để xác định nghĩa vụ trả lãi, cần làm rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả, số tiền chậm thanh toán, thời gian chậm trả và mức lãi suất được áp dụng.
Đặc biệt, cần phân biệt khoản tiền đặt cọc phải hoàn trả với khoản tiền phạt cọc, bởi hai khoản này được Nghị quyết hướng dẫn xử lý khác nhau.
Khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn hai vấn đề quan trọng liên quan đến việc tính lãi khi phát sinh tranh chấp đặt cọc.
Thứ nhất, đối với khoản tiền đặt cọc phải hoàn trả, Tòa án xem xét, chấp nhận yêu cầu tính lãi theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ hai, đối với khoản tiền phạt cọc, Tòa án không chấp nhận yêu cầu tính lãi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Đồng thời, Nghị quyết xác định ngày tính lãi đối với khoản tiền đặt cọc là ngày tiếp theo liền kề của ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng vì trên thực tế, nhiều người thường gộp chung tiền cọc và tiền phạt cọc rồi yêu cầu tính lãi trên toàn bộ số tiền.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết, việc tính lãi phải được xem xét riêng đối với từng khoản tiền, không thể mặc nhiên áp dụng cùng một cách tính cho cả tiền cọc và tiền phạt cọc.
Theo khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Khoản 2 Điều 357 quy định lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468.
Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015:
Như vậy, trong trường hợp không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả tiền đặt cọc và áp dụng các quy định nêu trên, mức lãi suất tương ứng là 10%/năm.
Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận hợp pháp về mức lãi suất chậm trả hoặc có quy định pháp luật khác được áp dụng, cần xác định mức lãi suất theo căn cứ tương ứng.
Không phải mọi trường hợp chậm hoàn trả tiền đặt cọc đều mặc nhiên áp dụng cùng một mức lãi suất mà không xem xét nội dung thỏa thuận.
Một trong những vấn đề thường gây tranh chấp là xác định thời điểm bắt đầu tính lãi.
Nhiều người cho rằng tiền lãi phải được tính ngay từ ngày giao tiền đặt cọc. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa chính xác đối với nghĩa vụ trả lãi do chậm hoàn trả tiền cọc.
Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, ngày trả tiền lãi đối với khoản tiền đặt cọc được tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc.
Điều đó có nghĩa, cần xác định thời điểm bên nhận đặt cọc phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
Ví dụ, A đặt cọc cho B số tiền 200 triệu đồng để bảo đảm việc mua bán nhà đất.
Sau đó, giao dịch không thể tiếp tục và hai bên thống nhất B phải hoàn trả toàn bộ tiền đặt cọc cho A vào ngày 30/10/2026.
Tuy nhiên, đến hết ngày 30/10/2026, B vẫn chưa hoàn trả tiền.
Trong trường hợp này, nếu nghĩa vụ hoàn trả đã đến hạn và B chậm thực hiện, thời gian tính lãi chậm trả được xác định từ ngày 31/10/2026.
Ngược lại, nếu các bên chưa xác định rõ thời hạn hoàn trả, cần xem xét nội dung thỏa thuận, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và những quy định liên quan để xác định ngày bắt đầu tính lãi.
Như vậy, không thể mặc nhiên tính lãi từ ngày ký hợp đồng đặt cọc hoặc ngày bên mua chuyển tiền cho bên bán.
Về nguyên tắc, tiền lãi do chậm trả được xác định dựa trên số tiền chậm thanh toán, lãi suất áp dụng và thời gian chậm trả thực tế.
Công thức tính tham khảo như sau:
Tiền lãi chậm trả = Số tiền chậm trả × Lãi suất năm × Số ngày chậm trả / 365
Ví dụ, A đặt cọc 300 triệu đồng để mua đất của B.
Sau đó, B có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền đặt cọc nhưng chậm thanh toán 180 ngày.
Giả sử hai bên không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả và áp dụng mức 10%/năm theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi đó, tiền lãi chậm trả được tính tham khảo như sau:
300.000.000 đồng × 10% × 180 / 365 = khoảng 14.794.521 đồng.
Như vậy, ngoài khoản tiền cọc gốc 300 triệu đồng, A có thể yêu cầu B trả thêm khoản tiền lãi chậm trả khoảng 14,79 triệu đồng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật.
Tổng số tiền gốc và lãi trong ví dụ là khoảng 314,79 triệu đồng, chưa bao gồm những nghĩa vụ tài chính khác nếu có căn cứ.
Tuy nhiên, đây chỉ là ví dụ minh họa. Trong thực tế, số tiền lãi được xác định theo thời gian chậm trả, khoản tiền thực tế chưa thanh toán, mức lãi suất áp dụng và quyết định của Tòa án.
Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất được Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn.
Ví dụ, A đặt cọc 200 triệu đồng để mua đất của B.
Sau đó, B từ chối giao kết hợp đồng và thuộc trường hợp phải chịu phạt cọc theo quy định pháp luật.
Nếu các bên không có thỏa thuận khác, B phải hoàn trả 200 triệu đồng tiền đặt cọc và trả thêm 200 triệu đồng tiền phạt cọc.
Như vậy, tổng nghĩa vụ thanh toán là 400 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu B chậm thanh toán, A có được yêu cầu tính lãi trên toàn bộ 400 triệu đồng hay không?
Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP:
Như vậy, nếu không có thỏa thuận khác hoặc quy định pháp luật đặc biệt, người mua không thể mặc nhiên yêu cầu tính lãi chậm trả trên toàn bộ 400 triệu đồng.
Khoản tiền đặt cọc phải hoàn trả và khoản tiền phạt cọc là hai nghĩa vụ khác nhau, được áp dụng quy định về tính lãi khác nhau.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng khi xác định số tiền yêu cầu trong các vụ kiện tranh chấp đặt cọc.
Trong thực tế, không ít trường hợp bên nhận đặt cọc không hoàn trả toàn bộ số tiền một lần mà thanh toán thành nhiều đợt.
Ví dụ, B có nghĩa vụ hoàn trả cho A số tiền đặt cọc 300 triệu đồng.
Sau khi chậm thanh toán, B trả trước 100 triệu đồng, sau đó tiếp tục trì hoãn việc thanh toán 200 triệu đồng còn lại.
Trong trường hợp này, việc tính lãi cần căn cứ vào số tiền thực tế còn chậm trả trong từng khoảng thời gian.
Nếu khoản thanh toán 100 triệu đồng được xác định là thanh toán vào tiền gốc đặt cọc, phần tiền gốc còn lại để tính lãi chậm trả sẽ được điều chỉnh tương ứng kể từ thời điểm khoản thanh toán được ghi nhận.
Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận hoặc phát sinh tranh chấp về thứ tự thanh toán tiền gốc, tiền lãi và các nghĩa vụ khác, cần xem xét quy định pháp luật và nội dung thỏa thuận cụ thể.
Do đó, khi nhận tiền hoàn trả từng phần, người đặt cọc nên yêu cầu bên thanh toán xác nhận rõ số tiền được trả vào nghĩa vụ nào và khoản còn phải thanh toán.
Việc này giúp hạn chế tranh chấp khi tính lãi chậm trả hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
Không phải mọi trường hợp không thanh toán đúng thời hạn đều có cùng căn cứ phát sinh trách nhiệm.
Theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền, trừ những trường hợp được pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận hợp pháp khác.
Trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng, trách nhiệm dân sự được xem xét theo khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc hợp đồng mua bán không thực hiện được do bất khả kháng và việc bên có nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc chậm thanh toán.
Chẳng hạn, giao dịch mua bán nhà đất không thể thực hiện do trở ngại khách quan, dẫn đến việc các bên không phải chịu phạt cọc theo hướng dẫn của Nghị quyết.
Sau đó, bên nhận đặt cọc phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền nhưng tiếp tục chậm thanh toán.
Trong trường hợp này, việc không phải chịu phạt cọc không đồng nghĩa với việc bên nhận đương nhiên được miễn nghĩa vụ trả lãi do chậm hoàn trả tiền.
Cần xem xét riêng thời điểm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả, nguyên nhân chậm trả và các căn cứ miễn trách nhiệm nếu có.
Không chịu phạt cọc và không phải trả lãi chậm hoàn trả tiền đặt cọc là hai vấn đề pháp lý khác nhau.
Khi bên nhận đặt cọc không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đúng hạn, người đặt cọc nên chủ động thu thập chứng cứ và xác định chính xác yêu cầu pháp lý.
Thứ nhất, kiểm tra hợp đồng đặt cọc. Cần xác định thời hạn hoàn trả, điều kiện phát sinh nghĩa vụ và những thỏa thuận về lãi chậm trả.
Thứ hai, xác định số tiền đặt cọc còn phải hoàn trả. Cần đối chiếu số tiền ban đầu với các khoản bên nhận đã thanh toán, nếu có.
Thứ ba, xác định thời điểm bắt đầu tính lãi. Cần làm rõ ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả để tính thời gian chậm trả theo quy định.
Thứ tư, thu thập chứng cứ về việc chậm thanh toán. Bao gồm hợp đồng, biên nhận, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, email, văn bản yêu cầu hoàn trả và các tài liệu liên quan.
Thứ năm, phân biệt tiền cọc và tiền phạt cọc. Khi xác định số tiền yêu cầu, không nên gộp chung hai khoản để tính lãi nếu không có căn cứ pháp luật.
Thứ sáu, xem xét thương lượng hoặc khởi kiện. Nếu bên có nghĩa vụ tiếp tục không thanh toán, người đặt cọc có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Đặc biệt, trong đơn khởi kiện, người yêu cầu nên xác định rõ số tiền đặt cọc phải hoàn trả, thời gian chậm thanh toán, mức lãi suất áp dụng và khoản tiền lãi yêu cầu.
Việc tính toán rõ ràng và có chứng cứ hỗ trợ sẽ giúp Tòa án xem xét yêu cầu theo đúng quy định pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phạt cọc, bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hoặc yêu cầu khác về hợp đồng đặt cọc theo Điều 429 Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết hướng dẫn Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự.
Điều này có nghĩa, cần phân biệt yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc với những yêu cầu khác phát sinh từ hợp đồng.
Đối với khoản tiền lãi do chậm hoàn trả tiền đặt cọc, việc áp dụng thời hiệu cần được xem xét theo bản chất của yêu cầu, quy định về nghĩa vụ chậm trả và pháp luật có liên quan.
Do đó, không nên mặc nhiên cho rằng vì yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc không áp dụng thời hiệu nên mọi khoản lãi và nghĩa vụ tài chính liên quan cũng đều không bị giới hạn thời hiệu.
Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, có hiệu lực từ ngày 15/10/2026, bên có nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc nhưng chậm thanh toán có thể phải trả thêm tiền lãi theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
Thời điểm tính lãi được xác định từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc.
Trong trường hợp không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả và áp dụng Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, mức lãi suất tương ứng là 10%/năm.
Đặc biệt, cần phân biệt khoản tiền đặt cọc phải hoàn trả với khoản tiền phạt cọc. Theo Nghị quyết, Tòa án không chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền phạt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, các bên cần xác định rõ nghĩa vụ hoàn trả, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và từng khoản tiền yêu cầu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH LH Legal cung cấp dịch vụ tư vấn, rà soát hợp đồng đặt cọc, xác định tiền lãi chậm trả, hỗ trợ thương lượng và giải quyết tranh chấp liên quan đến hoàn trả tiền cọc, phạt cọc và bồi thường thiệt hại tại Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:
Hotline Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01
Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html
Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830
Website: https://luatsulh.com/
Văn phòng: Hồ Chí Minh | Hà Nội | Khánh Hòa
Theo dõi Công ty Luật LH Legal tại:
Website: https://luatsulh.com/
Facebook: Luật sư LH Legal
Youtube: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LH Legal)
Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự
|
|
|
12A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định (Phường Đa Kao, Quận 1 cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình (Phường Trúc Bạch, Quận Ba Đình cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
144 Hoàng Hoa Thám, Phường Nha Trang (Phường Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01