Áp giải thi hành án là biện pháp cưỡng chế được cơ quan có thẩm quyền sử dụng để buộc người chấp hành án (phạm nhân, người bị kết án) phải đến nơi thi hành án hoặc địa điểm quy định khi họ không tự nguyện chấp hành hoặc có dấu hiệu bỏ trốn. Theo khoản 16 Điều 3 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019:“Áp giải thi hành án là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án phạt tù, tử hình, trục xuất đến nơi chấp hành án.”
Các trường hợp áp dụng biện pháp áp giải gồm:
Người bị kết án phạt tù đang tại ngoại (Khoản 4 Điều 23 Luật thi hành án hình sự năm 2019): Người bị phạt tù đang tại ngoại phải đến cơ quan thi hành án trong 7 ngày kể từ khi nhận quyết định; nếu không chấp hành đúng hạn sẽ bị áp giải thi hành án.
Người bị kết án tử hình: áp giải đến nơi thi hành án tử hình.
Người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù: Hết thời hạn hoãn/tạm đình chỉ mà không có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự. (Khoản 5, Điều 37 Luật thi hành án hình sự năm 2019).
Người được hưởng án treo: Khi bị Tòa tuyên án quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Thì người đó sẽ bị áp giải thi hành án.
Người bị bắt theo quyết định truy nã: Khi người này bỏ trốn mà bị bắt được sẽ bị áp giải thi hành án
So sánh giữa Áp giải thi hành án theo Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Dẫn giải tố tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Hành vi đánh tháo người đang bị áp giải hoặc thi hành án là vi phạm nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm hoạt động tư pháp. Theo Điều 387 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người có hành vi cố ý giúp đối tượng phải thi hành án thoát khỏi sự quản lý, giám sát hợp pháp của cơ quan chức năng trong quá trình bắt, tạm giữ, áp giải hoặc chấp hành án sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
“Điều 387. Tội đánh tháo người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải, xét xử, chấp hành án phạt tù
1. Người nào đánh tháo người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 119 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người áp giải;
d) Đánh tháo người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị kết án tử hình.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Theo Khoản 1 Điều 387 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm năm 2017), người có hành vi đánh tháo đối tượng đang bị áp giải hoặc thi hành án đối mặt với mức phạt tù từ 02 đến 07 năm. Đây là khung hình phạt cơ bản nhằm trừng trị nghiêm khắc hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp, đồng thời đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.
Trường hợp hành vi có tình tiết nghiêm trọng, Khoản 2 Điều 387 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định mức phạt tù tăng nặng từ 05 năm đến 12 năm. Những tình tiết này bao gồm:
Hành vi được thực hiện có tổ chức, nghĩa là có sự chuẩn bị, phân công vai trò cụ thể giữa các đối tượng;
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, khi người phạm tội dùng quyền hạn của mình để thực hiện hành vi;
Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người áp giải, bao gồm việc sử dụng sức mạnh vật chất, vũ khí hoặc các phương tiện nguy hiểm để chống lại cơ quan thi hành án;
Đánh tráo người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị kết án tử hình, vì đây là những trường hợp liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia và tính nghiêm minh của pháp luật.
Ngoài hình phạt tù, Khoản 3 Điều 387 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 đến 05 năm. Biện pháp này nhằm tước bỏ điều kiện tái phạm của người lợi dụng chức vụ để đánh tháo, đồng thời làm trong sạch bộ máy và củng cố kỷ cương trong các cơ quan Nhà nước.
Điều 387 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thể hiện sự nghiêm minh qua việc phân loại hình phạt theo tính chất hành vi, kết hợp tù giam và cấm đảm nhiệm chức vụ để vừa trừng phạt, vừa ngăn ngừa tái phạm, từ đó bảo vệ quyền lực Nhà nước và đảm bảo quá trình thi hành án đúng pháp luật.
Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi bỏ trốn khi đang bị áp giải nhằm răn đe, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và duy trì an ninh trong quá trình thi hành án, đồng thời ngăn chặn các nguy cơ xâm phạm trực tiếp đến quyền hạn của cơ quan chức năng.
“Điều 386. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử
1. Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người áp giải.”
Theo Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi bỏ trốn khi đang bị áp giải bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đây là khung hình phạt cơ bản áp dụng cho các trường hợp thông thường, không có tình tiết tăng nặng, nhằm đảm bảo tính răn đe và phản ánh đúng mức độ vi phạm của hành vi bỏ trốn đơn thuần.
Tại Khoản 2 Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mức phạt tù tăng nặng từ 03 đến 10 năm áp dụng cho hành vi bỏ trốn có tổ chức hoặc dùng vũ lực đối với người canh gác, áp giải. Những tình tiết này làm tăng tính nguy hiểm của vụ việc, không chỉ gây hỗn loạn quá trình thi hành án mà còn trực tiếp đe dọa tính mạng, sức khỏe của cán bộ thực thi pháp luật.
Vì thế, áp giải thi hành án là biện pháp cưỡng chế quan trọng nhằm duy trì tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm hiệu quả thực thi các quyết định tư pháp. Việc áp dụng biện pháp này không chỉ bảo vệ quyền lợi của Nhà nước mà còn thượng tôn nguyên tắc pháp quyền, khi mọi hành động đều phải có căn cứ pháp lý, được giám sát chặt chẽ và ghi chép đầy đủ. Qua đó, áp giải góp phần xây dựng trật tự xã hội vững chắc, đảm bảo sự công bằng và hiệu lực pháp luật trong đời sống.
Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:
Hotline Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01
Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html
Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830
Website: https://luatsulh.com/
Hồ Chí Minh: 12A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định (Phường Đa Kao, Quận 1 cũ)
Hà Nội: 51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình (Phường Trúc Bạch, Quận Ba Đình cũ)
Nha Trang: 144 Hoàng Hoa Thám, Phường Nha Trang (Phường Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang cũ)
Theo dõi Công ty Luật LH Legal tại:
Website: https://luatsulh.com/
Facebook: Luật sư LH Legal
Youtube: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LH Legal)
Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự
|
|
|
12A Nguyễn Đình Chiểu, Phường Tân Định (Phường Đa Kao, Quận 1 cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình (Phường Trúc Bạch, Quận Ba Đình cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01
144 Hoàng Hoa Thám, Phường Nha Trang (Phường Lộc Thọ, Thành phố Nha Trang cũ)
Điện thoại: 1900 2929 01