CÔNG TY LUẬT TNHH LHLEGAL
Banner mobi

Yêu cầu dịch vụ

HOTLINE: 1900 29 29 01

BẢN ÁN 01/2021/HS-ST NGÀY 11/01/2021 VỀ TỘI VÔ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Bản án về tội vô ý gây thương tích xảy ra tại huyện Ea H'leo Tỉnh Đắk Lắk.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 01/2021/HS-ST NGÀY 11/01/2021 VỀ TỘI VÔ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 11 tháng 01 năm 2021, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 97/2020/TLST- HS, ngày 07 tháng 12 năm 2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2020/QĐXXST- HS, ngày 28 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Phi H, sinh năm 1984, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 5, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị H; có vợ Phạm Thị H và có 05 người con; con lớn nhất sinh năm 2005 và con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án và tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Có mặt

 - Bị hại: Chị Lương Thị Thu T, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn 1, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp: cho bị hại là ông Đặng Văn B, sinh năm 1980 (là chồng của bị hại). Trú tại: Thôn 1, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Bích N, sinh năm 1994. Trú tại: Thôn 1, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

- Những người làm chứng:

1. Chị Bùi Tô Thanh T, sinh năm 2010 (người đại diện hợp pháp là bà Tô Thị B là mẹ chị T). Trú tại: Thôn 5, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn 3, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

3. Chị Phạm Thị Bích N, sinh năm 1994. Trú tại: Thôn 1, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

4. Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 2005 (người đại diện hợp pháp là bà Phạm Thị H là mẹ chị H). Trú tại: Thôn 5, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

5. Anh Lê Văn N, sinh năm 1975. Trú tại: Thôn 5, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình sinh sống và sinh hoạt cùng gia đình tại thôn 5, xã C, Nguyễn Phi H thấy cây gỗ Bời Lời trong vườn sát với đường liên xã Cư Mốt và xã Ea Wy. Cây gỗ đứng có hướng nghiêng ra đường và có khả năng đổ khi trời mưa, bão gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26 tháng 6 năm 2020, H không đặt vật hoặc biển báo hiệu cảnh báo cho người tham gia giao thông biết mà chỉ nói với con gái là cháu Nguyễn Thị Mỹ H ra đường đứng chặn các phương tiện qua lại trên đường để H sử dụng máy cưa xăng cắt hạ cây gỗ. Cháu H ra vị trí cách cây gỗ H cắt hạ khoảng 03 mét dùng tay trái ra hiệu cho xe ô tô nhãn hiệu Inova do anh Nguyễn Thanh H điều khiển đang lưu thông trên đường theo hướng từ xã Ea Wy về xã Cư Mốt đi chậm và dừng lại phía bên kia đường đối diện với cây gỗ mà H đang cắt, Thấy xe ô tô dừng lại, cháu H đi lên đoạn đường cong cách vị trí H cắt cây khoảng 50 mét để chặn phương tiện lưu thông theo hướng từ xã Cư Mốt đến xã Ea Wy. Lúc này, chị Lương Thị Thu T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47D1 - 436.96 chở chị Phạm Thị Bích N ngồi phía sau đang lưu thông trên đường, theo hướng từ xã Cư Mốt đến xã Ea Wy, thấy cháu H đứng bên lề đường vẫy tay nhưng chị T không dừng xe mà tiếp tục cho xe chạy vì nghĩ rằng cháu H là người xin đi nhờ xe. Khi xe mô tô của chị T và chị N vừa đi đến vị trí H cắt hạ cây gỗ thì lúc này cây gỗ vừa đổ ra đường, cành của cây gỗ đã va quẹt vào tay lái xe mô tô của chị T, làm xe ngã xuống đường, chị T bị thương nặng, còn chị N bị xây xát tay phải và đầu gối phải.

Đến ngày 30 tháng 10 năm 2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo tiến hành thực nghiệm điều tra xác định: Khoảng cách tầm nhìn của người đi đường đến vị trí gốc cây gỗ mà Nguyễn Phi H cắt hạ là 50 mét, trong khoảng cách 50 mét không có vật che khuất tầm nhìn.

Tại bản kết luận pháp y thương tích số: 721/TgT-TTPY, ngày 08/7/2020, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Lương Thị Thu T bị tổn thương cơ thể do thương tích là 71%.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 239.546.000 đồng tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (do hiện nay người bị hại đang phải điều trị thương tích) và bị cáo cũng đồng ý với mức bồi thường này. Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại được số tiền 23.000.000 đồng. Nay người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 216.546.000 đồng.

Sau này, nếu phát sinh thêm các khoản điều trị thương tích hợp lý khác thì người đại diện hợp pháp của bị hại sẽ thỏa thuận hoặc khởi kiện bằng một vụ án độc lập để yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường theo quy định.

Về hình phạt: Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT - VKS, ngày 03 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Vô ý gây thương tích” theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Vô ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án đã tuyên.

Đối với thương tích của chị Phạm Thị Bích N, thì chị N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ea H’Leo đã thu giữ 01 máy cưa lốc màu vàng, trắng, nhãn hiệu STIHL là tài sản của gia đình bị cáo. Do đây, không phải là vật chứng trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho gia đình bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận về mức bồi thường là 239.546.000 đồng, tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (do hiện nay người bị hại đang phải điều trị thương tích)Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại được số tiền 23.000.000 đồng. Nay buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho bị hại là chị Lương Thị Thu T là 216.546.000 đồng.

Sau này, nếu phát sinh thêm các khoản chi phí điều trị thương tích hợp lý khác, thì người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền thỏa thuận hoặc khởi kiện bằng một vụ án độc lập để yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận gì với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lần sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại thôn 5, xã Cư Mốt, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình cắt hạ cây gỗ trong vườn, do không đảm bảo các quy định về an toàn cho người tham gia giao thông, Nguyễn Phi H đã để cây gỗ đổ ra đường làm cành cây trực tiếp va vào xe mô tô do chị Lương Thị Thu T điều khiển đang lưu thông trên đường và làm xe mô tô chị T và chị N ngã xuống đường. Hậu quả, chị T bị thương tích là 71%; còn chị N bị xây xát tay phải và đầu gối phải.

Như vậy, đã đủ căn cứ để nhận định hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý gây thương tích” theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giữ đến 01 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

………………………………..

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù, bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chủ quan và quá tự tin về hành vi của mình mà bị cáo đã tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nên hành vi cắt hạ cây gỗ trong vườn của bị cáo đã gián tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của chị Lương Thị Thu T với tỷ lệ thương tích là 71% và hậu quả xảy ra nằm ngoài ý muốn của bị cáo, nên bị cáo phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin. Vì vậy, cần có một mức hình phạt tương xướng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không [4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tư nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 239.546.000 đồng tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (do hiện nay người bị hại đang phải điều trị thương tích) và bị cáo cũng đồng ý với mức bồi thường này. Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại được số tiền 23.000.000 đồng. Nay người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 216.546.000 đồng.

Sau này, nếu phát sinh thêm các khoản chi phí điều trị thương tích hợp lý khác, thì người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền thỏa thuận hoặc khởi kiện bằng một vụ án độc lập để yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường theo quy định.

[6]. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ea H’Leo đã thu giữ 01 máy cưa lốc màu vàng, trắng, nhãn hiệu STIHL là tài sản của gia đình bị cáo. Do đây, không phải là vật chứng trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho gia đình bị cáo.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Vô ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 và Điều 592 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận về mức bồi thường là 239.546.000 đồng tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (do hiện nay người bị hại đang phải điều trị thương tích)Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại được số tiền 23.000.000 đồng. Nay buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho bị hại là chị Lương Thị Thu T là 216.546.000 đồng (gồm tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; tiền tổn thất về tinh thần và các khoản chi phí khác).

Sau này, nếu phát sinh thêm các khoản chi phí điều trị thương tích hợp lý khác, thì người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện bằng một vụ án độc lập để yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường theo quy định.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 máy cưa lốc màu vàng, trắng, nhãn hiệu STIHL là tài sản của gia đình bị cáo. Do đây, không phải là vật chứng trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho gia đình bị cáo.

Đối với 01 đoạn cây gỗ Bời lời dài 4,3 mét không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. (Đặc điểm vật chứng được mô tả và lưu tại hồ sơ vụ án).

Về án phí: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và số tiền 10.827.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chia sẻ:
Người đăng: Quỳnh Ny
Copyrights © 2018 CÔNG TY LUẬT TNHH LHLEGAL. All rights reserved.
Đang online: 35   |   Tổng truy cập: 709448
Facebook chat