
Vốn nhà nước ngoài đầu tư công gồm những loại nào? Đánh giá dự án từ ngày 14/01/2026 ra sao?
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc xác định rõ khái niệm vốn nhà nước ngoài đầu tư công và quy định về đánh giá đối với các dự án sử dụng nguồn vốn này.
Vậy vốn nhà nước ngoài đầu tư công bao gồm những loại vốn nào? Dự án sử dụng nguồn vốn này phải thực hiện đánh giá giữa kỳ, đánh giá kết thúc hay đánh giá tác động ra sao?
Vốn nhà nước ngoài đầu tư công là gì?
Theo khoản 19 Điều 3 Nghị định 19/2026/NĐ-CP, vốn nhà nước ngoài đầu tư công là các nguồn vốn nhà nước nhưng không thuộc phạm vi vốn đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công.
Khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cơ chế quản lý, giám sát và đánh giá đối với từng dự án.
Vốn nhà nước ngoài đầu tư công bao gồm những loại vốn nào?
Theo Nghị định 19/2026/NĐ-CP, vốn nhà nước ngoài đầu tư công bao gồm:
- Vốn chi thường xuyên của ngân sách nhà nước;
- Vốn từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách theo Luật Ngân sách nhà nước;
- Vốn vay do Chính phủ bảo lãnh theo Luật Quản lý nợ công;
- Vốn của doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
- Vốn của doanh nghiệp do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
- Các nguồn vốn nhà nước khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Điểm cần lưu ý là vốn đầu tư công theo Luật Đầu tư công không được xếp vào nhóm vốn nhà nước ngoài đầu tư công.
Do đó, khi xác định một dự án thuộc cơ chế giám sát, đánh giá nào, trước hết cần làm rõ nguồn vốn thực tế được sử dụng.
Vì sao cần phân biệt vốn nhà nước ngoài đầu tư công và vốn đầu tư công?
Hai khái niệm này đều liên quan đến nguồn lực của Nhà nước nhưng có cơ chế pháp lý và phương thức quản lý khác nhau.
Việc phân biệt giúp xác định đúng:
- Cơ quan có trách nhiệm giám sát, đánh giá;
- Hình thức đánh giá dự án;
- Trách nhiệm của nhà đầu tư;
- Trách nhiệm của người quyết định đầu tư;
- Trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước;
- Chế độ báo cáo và cung cấp thông tin.
Nếu xác định sai loại vốn, doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý có thể áp dụng không đúng trình tự giám sát, đánh giá dự án.
Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công phải đánh giá như thế nào?
Điều 62 Nghị định 19/2026/NĐ-CP quy định việc đánh giá dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công theo từng nhóm dự án.
Dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A
Đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, phải thực hiện đầy đủ:
- Đánh giá giữa kỳ;
- Đánh giá kết thúc;
- Đánh giá tác động.
Đây là nhóm dự án có quy mô, mức độ ảnh hưởng hoặc tính chất quan trọng cao nên yêu cầu đánh giá được thực hiện ở nhiều giai đoạn.
Dự án nhóm B phải thực hiện những loại đánh giá nào?
Đối với dự án nhóm B, Nghị định 19/2026/NĐ-CP yêu cầu thực hiện:
- Đánh giá kết thúc;
- Đánh giá tác động.
Như vậy, so với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, dự án nhóm B không bắt buộc phải thực hiện đánh giá giữa kỳ theo quy định chung tại Điều 62.
Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể quyết định thực hiện thêm các hình thức đánh giá khác.
Có thể yêu cầu đánh giá thêm ngoài các trường hợp bắt buộc không?
Có.
Ngoài các loại đánh giá bắt buộc đối với từng nhóm dự án, người có thẩm quyền quyết định đầu tư, cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư có thể quyết định thực hiện các loại đánh giá khác theo quy định khi thấy cần thiết.
Quy định này tạo cơ chế linh hoạt để tăng cường kiểm tra đối với dự án có dấu hiệu chậm tiến độ, vượt chi phí, thay đổi mục tiêu hoặc phát sinh vấn đề cần được xem xét độc lập.
Ai chịu trách nhiệm tổ chức đánh giá dự án?
Nghị định 19/2026/NĐ-CP phân định trách nhiệm khá rõ giữa nhà đầu tư và cơ quan quản lý.
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư có trách nhiệm tổ chức:
- Đánh giá giữa kỳ;
- Đánh giá kết thúc.
Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư phải chủ động chuẩn bị hồ sơ, dữ liệu, báo cáo và các thông tin cần thiết phục vụ quá trình đánh giá.
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư chịu trách nhiệm tổ chức:
- Đánh giá đột xuất;
- Đánh giá tác động.
Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước
Các cơ quan này thực hiện:
- Các loại đánh giá theo kế hoạch;
- Đánh giá đột xuất đối với dự án thuộc phạm vi quản lý.
Cơ chế này giúp bảo đảm hoạt động đánh giá không chỉ phụ thuộc vào phía nhà đầu tư mà còn có sự kiểm tra từ cơ quan quản lý và đại diện chủ sở hữu nhà nước.
Nội dung đánh giá dự án căn cứ theo quy định nào?
Theo khoản 3 Điều 62 Nghị định 19/2026/NĐ-CP, nội dung đánh giá dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công được thực hiện theo Điều 77 Luật Đầu tư công 2024.
Tùy từng loại đánh giá, nội dung xem xét có thể liên quan đến:
- Mục tiêu đầu tư;
- Tiến độ thực hiện;
- Khối lượng công việc;
- Chi phí;
- Hiệu quả đầu tư;
- Tác động kinh tế - xã hội;
- Những tồn tại, hạn chế;
- Nguyên nhân và trách nhiệm;
- Kiến nghị xử lý hoặc điều chỉnh.
Do đó, việc đánh giá không đơn thuần là một thủ tục báo cáo mà còn là công cụ để xem xét mức độ hiệu quả của dự án trong suốt vòng đời đầu tư.
Đánh giá giữa kỳ có ý nghĩa gì?
Đánh giá giữa kỳ được thực hiện trong quá trình dự án đang triển khai.
Mục tiêu chủ yếu là xem xét dự án có đang thực hiện đúng:
- Mục tiêu;
- Tiến độ;
- Quy mô;
- Chi phí;
- Kế hoạch ban đầu;
hay không.
Thông qua đánh giá giữa kỳ, cơ quan quản lý và nhà đầu tư có thể phát hiện sớm các vấn đề để điều chỉnh trước khi dự án hoàn thành.
Đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công, đây là loại đánh giá bắt buộc.
Đánh giá kết thúc được thực hiện khi nào?
Đánh giá kết thúc được thực hiện sau khi dự án hoàn thành hoặc kết thúc giai đoạn đầu tư theo quy định.
Nội dung đánh giá thường tập trung xem xét:
- Mức độ hoàn thành mục tiêu;
- Tiến độ thực tế;
- Chi phí thực tế;
- Chất lượng kết quả đầu tư;
- Hiệu quả sử dụng nguồn vốn;
- Những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Cả dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A và dự án nhóm B đều phải thực hiện đánh giá kết thúc.
Đánh giá tác động nhằm mục đích gì?
Đánh giá tác động nhằm xác định những ảnh hưởng mà dự án tạo ra sau quá trình triển khai hoặc đưa vào vận hành.
Tùy tính chất dự án, các tác động có thể được đánh giá trên nhiều phương diện, như:
- Kinh tế;
- Xã hội;
- Môi trường;
- Hiệu quả sử dụng vốn;
- Khả năng đạt mục tiêu đầu tư;
- Tác động đến ngành, địa phương hoặc nhóm đối tượng liên quan.
Theo Điều 62 Nghị định 19/2026/NĐ-CP, dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A và dự án nhóm B đều thuộc diện phải đánh giá tác động.

Đánh giá tác động nhằm xác định những ảnh hưởng mà dự án tạo ra sau quá trình triển khai
Cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư có nhiệm vụ gì?
Theo Điều 92 Nghị định 19/2026/NĐ-CP, cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cụ thể.
Trong đó có:
- Lập kế hoạch theo dõi, kiểm tra và đánh giá đầu tư;
- Tổ chức thực hiện các hoạt động theo dõi, kiểm tra, đánh giá trong phạm vi được giao;
- Phân công bộ phận và cán bộ chịu trách nhiệm;
- Tổ chức hệ thống cung cấp, quản lý và lưu trữ thông tin;
- Thu thập báo cáo và tài liệu có liên quan;
- Phân tích thông tin;
- Lập Báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư;
- Trình cơ quan có thẩm quyền xem xét theo quy định.
Như vậy, cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá không chỉ tiếp nhận báo cáo mà còn phải chủ động tổ chức hệ thống theo dõi dự án.
Cơ quan giám sát có quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ không?
Có.
Cơ quan, đơn vị thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư có quyền yêu cầu các cơ quan, đơn vị và chủ thể có liên quan:
- Báo cáo theo chế độ quy định;
- Cung cấp thông tin;
- Bổ sung hồ sơ, tài liệu cần thiết để phục vụ giám sát và đánh giá.
Nếu cần thiết, cơ quan giám sát có thể trao đổi trực tiếp với:
- Chủ đầu tư;
- Nhà đầu tư;
- Cơ quan, đơn vị có liên quan.
Việc trao đổi có thể được thực hiện qua điện thoại hoặc trực tiếp tại hiện trường.
Trường hợp làm việc tại hiện trường, phải có kế hoạch, nội dung cụ thể và thông báo trước cho các đơn vị liên quan.
Có thể kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ dự án nếu phát hiện sai phạm không?
Có.
Một trong những quyền hạn đáng chú ý của cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư là kiến nghị cấp có thẩm quyền:
- Điều chỉnh dự án;
- Hủy bỏ quyết định đầu tư;
- Đình chỉ thực hiện dự án;
- Tạm dừng thực hiện dự án;
nếu trong quá trình giám sát, đánh giá phát hiện sai phạm nghiêm trọng.
Cơ quan giám sát cũng có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm của chủ đầu tư, nhà đầu tư hoặc đơn vị liên quan và kiến nghị biện pháp xử lý phù hợp.
Cơ quan giám sát, đánh giá đầu tư có phải bảo đảm năng lực chuyên môn không?
Có.
Theo Điều 92 Nghị định 19/2026/NĐ-CP, cơ quan, đơn vị thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm cán bộ và bộ phận được giao nhiệm vụ có đủ năng lực thực hiện công việc.
Quy định này nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, đặc biệt đối với các dự án có quy mô lớn hoặc sử dụng nguồn vốn nhà nước.
Nhà đầu tư cần lưu ý gì khi dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công?
Đối với dự án thuộc nhóm vốn này, nhà đầu tư nên xác định ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án:
- Nguồn vốn có thuộc vốn nhà nước ngoài đầu tư công hay không;
- Dự án thuộc nhóm A, nhóm B hay dự án quan trọng quốc gia;
- Các loại đánh giá bắt buộc;
- Thời điểm tổ chức đánh giá;
- Hồ sơ, dữ liệu phải lưu trữ;
- Chế độ báo cáo;
- Cơ quan có thẩm quyền giám sát;
- Trách nhiệm cung cấp thông tin khi được yêu cầu.
Việc chuẩn bị hệ thống dữ liệu và hồ sơ từ đầu giúp hạn chế tình trạng thiếu thông tin khi thực hiện đánh giá giữa kỳ, đánh giá kết thúc hoặc khi có yêu cầu kiểm tra đột xuất.
Tóm lại, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và việc đánh giá dự án được quy định thế nào?
Từ ngày 14/01/2026, Nghị định 19/2026/NĐ-CP xác định vốn nhà nước ngoài đầu tư công bao gồm vốn chi thường xuyên ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn vay do Chính phủ bảo lãnh, vốn của doanh nghiệp nhà nước, vốn của doanh nghiệp do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và các nguồn vốn nhà nước khác theo quy định, nhưng không bao gồm vốn đầu tư công.
Đối với dự án sử dụng nguồn vốn này:
- Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A: phải đánh giá giữa kỳ, đánh giá kết thúc và đánh giá tác động;
- Dự án nhóm B: phải đánh giá kết thúc và đánh giá tác động;
- Các cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu thực hiện thêm những loại đánh giá khác khi cần thiết.
Nhà đầu tư chịu trách nhiệm tổ chức đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc, trong khi người có thẩm quyền quyết định đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các loại đánh giá thuộc phạm vi trách nhiệm theo quy định.
Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:
Hotline Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01
Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html
Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830
Website: https://luatsulh.com/
Văn phòng: Hồ Chí Minh | Hà Nội | Khánh Hòa
Theo dõi Công ty Luật LH Legal tại:
Website: https://luatsulh.com/
Facebook: Luật sư LH Legal
Youtube: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LH Legal)
Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự
![]() |
![]() |
Nguyên tắc chuyển tiền ra nước ngoài trước đầu tư từ ngày 31/7/2026 theo Thông tư 34/2026/TT-NHNN (24.08.2026)
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có được giảm 30% tiền thuê đất trong 5 năm đầu? (11.08.2026)
Người nước ngoài có được đầu tư cổ phiếu trên sàn chứng khoán Việt Nam? (04.08.2026)
Thành lập công ty dầu khí tại Việt Nam cần đáp ứng điều kiện gì? Thủ tục thực hiện ra sao? (04.08.2026)


Tổng đài tư vấn pháp luật:
Email: hoa.le@luatsulh.com




