
Tự ý dùng tài sản chung vợ chồng để đặt cọc, hợp đồng có vô hiệu?
Dùng tài sản chung vợ chồng để đặt cọc có cần sự đồng ý của cả hai?
Trong các giao dịch mua bán nhà đất, ô tô hoặc tài sản có giá trị lớn, việc sử dụng tiền tiết kiệm, vàng hoặc tài sản khác để đặt cọc là điều khá phổ biến.
Tuy nhiên, tranh chấp có thể phát sinh khi một người tự ý sử dụng tài sản chung của vợ chồng để đặt cọc mà người còn lại không biết hoặc không đồng ý.
Chẳng hạn, người chồng tự ý sử dụng 500 triệu đồng tiền tiết kiệm chung để đặt cọc mua đất. Sau đó, người vợ phát hiện và phản đối vì cho rằng đây là tài sản chung, không thể do một người quyết định.
Vậy thỏa thuận đặt cọc có hiệu lực hay không?
Theo khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu chung làm tài sản đặt cọc được thực hiện như sau:
- Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, việc đặt cọc phải được sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung.
- Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, bên đặt cọc chỉ được đặt cọc phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Bên cạnh đó, theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
Như vậy, việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng để đặt cọc phải tuân thủ quy định về quyền định đoạt tài sản chung. Tuy nhiên, không phải mọi giao dịch do một người thực hiện mà không có văn bản đồng ý riêng của người còn lại đều đương nhiên vô hiệu.
Cần xem xét loại tài sản, mục đích giao dịch, quyền đại diện, thỏa thuận của vợ chồng và những quy định pháp luật liên quan.
Nghị quyết 03/2026 quy định thế nào về việc dùng tài sản chung để đặt cọc?
Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP đã phân biệt hai trường hợp sử dụng tài sản chung để đặt cọc.
Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
Theo Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung.
Đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và những thỏa thuận hợp pháp có liên quan.
Theo điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, về nguyên tắc, việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất để đặt cọc phải được sự đồng ý của tất cả chủ sở hữu chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Ví dụ, vợ chồng cùng sở hữu một chiếc ô tô trị giá 1 tỷ đồng.
Người chồng muốn sử dụng chiếc ô tô để đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hợp đồng mua bán một tài sản khác.
Trong trường hợp này, cần xác định quyền định đoạt của người chồng và sự đồng ý của người vợ theo quy định pháp luật.
Việc chiếc ô tô do người chồng trực tiếp sử dụng hoặc đứng tên trên giấy đăng ký không đồng nghĩa với việc người chồng đương nhiên có toàn quyền định đoạt nếu đây là tài sản chung của vợ chồng.
Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung theo phần
Theo Điều 209 Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.
Theo điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, đối với tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, bên đặt cọc chỉ được đặt cọc phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Ví dụ, A và B cùng sở hữu một tài sản theo phần, mỗi người có quyền sở hữu 50%.
Nếu A muốn sử dụng toàn bộ tài sản để đặt cọc, cần có căn cứ xác định A được quyền định đoạt cả phần tài sản thuộc sở hữu của B.
Nếu không có quyền định đoạt hợp pháp, A không thể mặc nhiên sử dụng toàn bộ tài sản chung để thực hiện giao dịch.
Tuy nhiên, đối với tài sản chung của vợ chồng, cần xác định rõ chế độ sở hữu và những quy định chuyên ngành trước khi áp dụng cơ chế xử lý tương ứng.
Những tài sản nào được xem là tài sản chung của vợ chồng?
Để xác định một người có được tự ý sử dụng tài sản để đặt cọc hay không, trước hết cần làm rõ tài sản đó là tài sản chung hay tài sản riêng.
Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ các trường hợp luật định.
Tài sản chung còn có thể bao gồm tài sản được vợ chồng thừa kế chung, được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Đối với quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn, việc xác định tài sản chung hoặc riêng phải căn cứ vào nguồn gốc hình thành và những trường hợp ngoại lệ theo pháp luật.
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình, trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Ví dụ, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cùng sử dụng tiền tích lũy để mua vàng hoặc ô tô.
Nếu không có căn cứ xác định đây là tài sản riêng, việc định đoạt tài sản phải được xem xét theo quy định về tài sản chung.
Đặc biệt, việc tài khoản ngân hàng, giấy đăng ký xe hoặc giấy tờ tài sản chỉ đứng tên một người không phải lúc nào cũng chứng minh đây là tài sản riêng của người đó.
Chồng tự ý lấy tiền tiết kiệm chung đặt cọc mua đất, hợp đồng có vô hiệu?
Giả sử vợ chồng có khoản tiền tiết kiệm chung 600 triệu đồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Người chồng tự ý rút 300 triệu đồng để đặt cọc mua đất mà không trao đổi với người vợ.
Sau khi biết sự việc, người vợ phản đối và yêu cầu bên bán hoàn trả tiền đặt cọc vì cho rằng chồng không có quyền tự ý sử dụng tài sản chung.
Trong trường hợp này, cần xem xét nhiều vấn đề pháp lý.
Trước hết, phải xác định khoản tiền 300 triệu đồng có thực sự là tài sản chung của vợ chồng hay không.
Tiếp theo, cần làm rõ người chồng sử dụng tiền để đặt cọc nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, thực hiện hoạt động kinh doanh chung hay phục vụ mục đích riêng.
Đồng thời, cần xem xét vợ chồng có thỏa thuận về quyền quản lý, sử dụng và định đoạt khoản tiền này hay không.
Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
Tuy nhiên, pháp luật không quy định mọi giao dịch liên quan đến tài sản chung đều bắt buộc phải có văn bản đồng ý riêng của cả hai vợ chồng.
Do đó, không thể chỉ căn cứ vào việc người vợ không trực tiếp ký hợp đồng đặt cọc để kết luận hợp đồng đương nhiên vô hiệu.
Cần đánh giá tính chất giao dịch, quyền đại diện và các quy định pháp luật áp dụng đối với loại tài sản cụ thể.
Những trường hợp định đoạt tài sản chung phải có sự đồng ý bằng văn bản của vợ chồng
Theo khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, tài sản là bất động sản.
Ví dụ, vợ chồng cùng sở hữu quyền sử dụng đất và một người muốn thực hiện giao dịch định đoạt quyền sử dụng đất thuộc tài sản chung.
Trong trường hợp này, việc định đoạt phải tuân thủ yêu cầu về sự thỏa thuận bằng văn bản và các quy định pháp luật liên quan.
Thứ hai, tài sản là động sản mà theo quy định pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu.
Chẳng hạn, ô tô thuộc sở hữu chung của vợ chồng là loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Việc định đoạt tài sản này cần đáp ứng yêu cầu của Luật Hôn nhân và gia đình.
Thứ ba, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Đối với tài sản chung là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình, việc định đoạt cũng phải có sự thỏa thuận bằng văn bản theo quy định.
Như vậy, khi một người muốn sử dụng tài sản thuộc những trường hợp nêu trên để đặt cọc, cần đặc biệt xem xét yêu cầu về sự đồng ý bằng văn bản của người còn lại nếu giao dịch có bản chất định đoạt tài sản.
Tuy nhiên, với những tài sản chung khác như tiền hoặc vàng, cần xem xét nội dung thỏa thuận của vợ chồng, quyền đại diện và tính chất giao dịch cụ thể, thay vì mặc nhiên áp dụng cùng một yêu cầu về hình thức.
Vợ hoặc chồng đứng tên tài sản có được tự ý đem đặt cọc không?
Trên thực tế, không ít tài sản chung của vợ chồng chỉ đứng tên một người.
Ví dụ, chiếc ô tô được mua bằng tiền chung nhưng giấy đăng ký xe chỉ ghi tên người chồng.
Sau đó, người chồng sử dụng ô tô để đặt cọc nhằm bảo đảm việc ký kết hợp đồng mua bán một tài sản khác.
Khi xảy ra tranh chấp, người vợ cho rằng chiếc xe là tài sản chung nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu.
Trong trường hợp này, việc xác định quyền sở hữu không chỉ dựa trên tên người được ghi trong giấy đăng ký tài sản.
Cần làm rõ nguồn tiền mua xe, thời điểm hình thành tài sản, chế độ tài sản của vợ chồng và những thỏa thuận có liên quan.
Nếu chiếc xe là tài sản chung, việc sử dụng xe để đặt cọc phải đáp ứng quy định về quyền định đoạt tài sản chung.
Đặc biệt, cần xem xét người thực hiện giao dịch có quyền đại diện hợp pháp cho người còn lại hay không.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong một số trường hợp, vợ hoặc chồng có thể xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung theo quy định về đại diện và các nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Do đó, người đứng tên tài sản không đương nhiên có toàn quyền định đoạt, nhưng việc một người trực tiếp xác lập giao dịch cũng không mặc nhiên khiến giao dịch vô hiệu.
Tự ý dùng tài sản chung để đặt cọc, hợp đồng có bị tuyên vô hiệu?
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, thỏa thuận đặt cọc có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 5 Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu chung để đặt cọc.
Như vậy, nếu một người tự ý sử dụng tài sản chung khi không có quyền định đoạt hợp pháp, giao dịch có thể phát sinh tranh chấp về hiệu lực.
Tuy nhiên, việc xác định hợp đồng đặt cọc vô hiệu toàn bộ, vô hiệu một phần hoặc phát sinh trách nhiệm pháp lý khác phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể.
Ví dụ, A và B là vợ chồng, cùng sở hữu một chiếc ô tô được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
A tự ý sử dụng chiếc xe để đặt cọc cho C mà không có sự đồng ý của B.
Khi B phát hiện và phản đối, cần xem xét liệu A có quyền đại diện hoặc quyền định đoạt hợp pháp đối với tài sản hay không.
Nếu có căn cứ xác định giao dịch vi phạm điều kiện có hiệu lực theo quy định pháp luật, Tòa án có thể xem xét hậu quả pháp lý tương ứng.
Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, nếu giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu thì về nguyên tắc, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp có thiệt hại, bên có lỗi gây thiệt hại có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình nếu phát sinh những điều kiện pháp luật tương ứng.
Dùng tài sản chung để đặt cọc rồi mất cọc, ai chịu thiệt hại?
Một vấn đề đáng chú ý khác là trường hợp một người sử dụng tài sản chung để đặt cọc nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ khiến tài sản bị xử lý theo chế tài mất cọc.
Theo điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, nếu các bên không thỏa thuận về việc phạt cọc, bên đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.
Tuy nhiên, khi tài sản đặt cọc thuộc sở hữu chung của vợ chồng, việc áp dụng chế tài mất cọc cần xem xét quyền định đoạt và hiệu lực của thỏa thuận.
Ví dụ, người chồng tự ý sử dụng tài sản chung của vợ chồng để đặt cọc mua đất.
Sau đó, người chồng từ chối tiếp tục giao dịch, khiến bên bán yêu cầu giữ tài sản đặt cọc.
Trong trường hợp này, cần xác định người chồng có quyền sử dụng tài sản chung để đặt cọc hay không, thỏa thuận đặt cọc có hiệu lực không và hành vi từ chối giao dịch có làm phát sinh trách nhiệm mất cọc hay không.
Nếu việc sử dụng tài sản chung trái với quy định pháp luật hoặc vượt quá phạm vi quyền định đoạt, cần xem xét hiệu lực giao dịch trước khi xác định quyền của bên nhận đặt cọc.
Đồng thời, nếu hành vi của một bên vợ hoặc chồng gây thiệt hại cho người còn lại, trách nhiệm giữa vợ chồng có thể được xem xét theo quy định về tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ dân sự.
Không thể mặc nhiên kết luận rằng chỉ cần một người vi phạm hợp đồng đặt cọc thì toàn bộ tài sản chung của vợ chồng đương nhiên bị mất.
Bên nhận đặt cọc cần kiểm tra gì để tránh tranh chấp tài sản chung vợ chồng?
Khi nhận đặt cọc bằng tài sản có giá trị lớn, đặc biệt là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, bên nhận cần xác minh quyền định đoạt trước khi thực hiện giao dịch.
Thứ nhất, kiểm tra nguồn gốc tài sản. Cần xác định tài sản được hình thành trước hay trong thời kỳ hôn nhân, thuộc tài sản chung hay tài sản riêng.
Thứ hai, xác minh quyền sở hữu và quyền định đoạt. Không nên chỉ dựa vào việc một người đứng tên giấy tờ hoặc đang trực tiếp quản lý tài sản.
Thứ ba, xác định sự đồng ý của người còn lại. Đối với những trường hợp pháp luật yêu cầu thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng, cần có tài liệu thể hiện sự đồng ý hợp pháp.
Thứ tư, xem xét quyền đại diện. Nếu chỉ một người trực tiếp giao kết, cần làm rõ người đó có quyền đại diện hoặc được ủy quyền hợp pháp hay không.
Thứ năm, quy định rõ trách nhiệm khi phát sinh tranh chấp. Hợp đồng nên xác định trách nhiệm của bên đặt cọc nếu có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt tài sản.
Thứ sáu, lưu giữ chứng cứ giao nhận tài sản. Bao gồm hợp đồng đặt cọc, giấy tờ sở hữu, văn bản đồng ý của người đồng sở hữu và những tài liệu có liên quan.
Đặc biệt, khi tài sản đặt cọc có giá trị lớn, việc rà soát pháp lý trước khi giao nhận sẽ giúp hạn chế nguy cơ giao dịch bị tranh chấp hoặc không thể thực hiện.
Kết luận
Theo khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu chung để đặt cọc phải phù hợp với hình thức sở hữu và quyền định đoạt của các chủ sở hữu.
Đối với tài sản chung hợp nhất, việc đặt cọc về nguyên tắc phải có sự đồng ý của tất cả chủ sở hữu chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận hợp pháp khác.
Đối với tài sản chung của vợ chồng, cần xem xét thêm Luật Hôn nhân và gia đình 2014, đặc biệt là quy định về thỏa thuận định đoạt tài sản chung, quyền đại diện và những trường hợp phải có sự đồng ý bằng văn bản.
Như vậy, không phải mọi giao dịch đặt cọc bằng tài sản chung do một người thực hiện đều đương nhiên vô hiệu, nhưng việc tự ý định đoạt tài sản khi không có quyền hợp pháp có thể làm phát sinh tranh chấp và trách nhiệm dân sự.
Vì vậy, trước khi sử dụng tài sản chung vợ chồng để đặt cọc, các bên cần xác định rõ tình trạng sở hữu, phạm vi quyền định đoạt và sự đồng ý của những người có liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp và hạn chế rủi ro.
Công ty Luật TNHH LH Legal cung cấp dịch vụ tư vấn, rà soát hợp đồng đặt cọc, đánh giá quyền sở hữu và quyền định đoạt tài sản chung vợ chồng, hỗ trợ giải quyết tranh chấp hợp đồng và tài sản nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định pháp luật.
Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:
Hotline Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01
Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html
Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830
Website: https://luatsulh.com/
Văn phòng: Hồ Chí Minh | Hà Nội | Khánh Hòa
Theo dõi Công ty Luật LH Legal tại:
Website: https://luatsulh.com/
Facebook: Luật sư LH Legal
Youtube: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LH Legal)
Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LH Legal
Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự
![]() |
![]() |
Đề xuất miễn giấy phép xây dựng đối với nhà ở dưới 7 tầng: Người dân sẽ được “dễ thở” hơn? (16.05.2026)
Vì sao nên có luật sư đồng hành khi đầu tư vào dự án BĐS du lịch tại Việt Nam? (23.04.2026)
Nhà đất sai hiện trạng so với sổ đỏ: Có sang tên được không? Cách xử lý hợp pháp (21.04.2026)
Nghĩa vụ thuế của chủ nhà khi cho nhiều người thuê cùng một bất động sản như thế nào? (20.04.2026)
Phạt đến 300 triệu đồng nếu xây nhà tạm trên đất nông nghiệp (20.04.2026)
Người bán đất có doanh nghiệp đang nợ thuế, người mua có được cấp sổ đỏ không? (13.04.2026)
Luật Kinh doanh BĐS sửa đổi: Tăng kiểm soát pháp lý, minh bạch thị trường địa ốc (02.04.2026)
Xác định loại đất khi cấp sổ đỏ: Ưu tiên hiện trạng hay bản đồ địa chính cũ? (02.04.2026)


Tổng đài tư vấn pháp luật:
Email: hoa.le@luatsulh.com




