logo
HotlineTổng đài tư vấn pháp luật: 1900 2929 01
HotlineHotline đặt lịch hẹn: 0903796830
EmailEmail: hoa.le@luatsulh.com

Làm thế nào để khởi kiện người bôi nhọ, vu khống mình trên mạng xã hội?

Bị vu khống, bôi nhọ trên mạng xã hội không chỉ làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín mà còn gây ra nhiều tổn thất tinh thần, vật chất. Vậy phải làm gì để tự bảo vệ mình hợp pháp? Bài viết sẽ hướng dẫn chi tiết cách khởi kiện người có hành vi bôi nhọ, vu khống trên mạng xã hội, các bước thu thập chứng cứ, trình tự tố tụng và những lưu ý quan trọng để bạn bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

    >>> Chế ảnh để bôi nhọ người khác trên facebook có bị xử phạt?

    >>> Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác bị xử phạt như thế nào?

    Làm thế nào để khởi kiện người bôi nhọ, vu khống mình trên mạng xã hội?

    Câu hỏi:

    Dạ em chào Luật sư ạ. Cho em hỏi: Giờ em muốn khởi kiện một người ở khá xa em, người này liên tục công kích em, bôi nhọ ba mẹ em, vu khống em chơi ma túy. Họ công kích em trên mạng xã hội rất nhiều lần, mặc dù em đã chặn nhưng họ lại tạo tài khoản khác để tiếp tục quấy rối, thậm chí còn chửi cả những người bênh vực em. Em có bằng chứng đầy đủ. Em cũng thú nhận rằng khi bị họ chửi ba mẹ em thì em có mất bình tĩnh và chửi lại. Vậy bây giờ em muốn kiện thì em nên bắt đầu từ đâu và chi phí cho việc nộp đơn kiện này như thế nào ạ? Trường hợp em có chửi lại thì em có khởi kiện được không ạ?

    Trong thời đại số, thông tin lan truyền với tốc độ chóng mặt, chỉ một bài viết, hình ảnh hay bình luận tiêu cực trên mạng xã hội cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín cá nhân, hình ảnh và đời sống của cá nhân, tổ chức. Thậm chí, nhiều trường hợp còn dẫn đến các tranh chấp, kiện tụng phức tạp, làm xáo trộn cuộc sống và công việc. LHLegal sẽ hướng dẫn bạn đọc cách để khởi kiện người bôi nhọ, vu khống mình trên mạng xã hội thông qua bài viết này nhé. 

    Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín theo pháp luật

    Theo khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. 

    Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín còn được quy định tại Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

    • Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

    • Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

    Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

    • Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

    • Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

    • Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

    Trường hợp người bị hại cũng có phản ứng lại: có còn quyền khởi kiện không? 

    Trong trường hợp người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có phản ứng lại thì không làm mất đi quyền khởi kiện của họ, người đó vẫn có quyền khởi kiện người đã thực hiện hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ. Vì:

    Các điều kiện để khởi kiện vụ án dân sự gồm:

    1. Điều kiện về chủ thể khởi kiện:

    Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyền khởi kiện vụ án dân sự được quy định như sau:

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Đồng thời, theo điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì sẽ bị trả lại đơn khởi kiện. Do đó, điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Và người khởi kiện có quyền, lợi ích dân sự bị xâm phạm. 

    1. Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

    2. Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện;

    3. Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật.

    Như vậy, chỉ cần người khởi kiện đáp ứng đủ các điều kiện trên thì có thể khởi kiện người bôi nhọ, vu khống mình trên mạng xã hội, dù có phản ứng lại thì vẫn không làm mất đi quyền khởi kiện của họ.

    Mức xử phạt đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác trên mạng xã hội

    Theo khoản 3 Điều 16 Luật An ninh mạng 2018, thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm:

    • Thông tin xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

    • Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

    Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác trên mạng xã hội là hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội có thể bị phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự tùy thuộc vào tính chất, mức độ hành vi.

    Theo điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, đồng thời còn bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm.

    Bên cạnh đó, nếu đáp ứng đủ điều kiện cấu thành tội danh thì người có hành vi sử dụng mạng xã hội để bôi nhọ danh dự của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015. 

    Đối với tội làm nhục người khác, Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 quy định như sau: 

    • Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm đối với người xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.

    • Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

      • Phạm tội 02 lần trở lên;

      • Đối với 02 người trở lên;

      • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

      • Đối với người đang thi hành công vụ;

      • Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

      • Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

      • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    • Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

      • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

      • Làm nạn nhân tự sát.

    • Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Người xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác có thể bị phạt tù đến 5 năm

    Người xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác có thể bị phạt tù đến 5 năm

    Đối với tội vu khống, Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 quy định cụ thể:

    • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với người thực hiện một trong các hành vi sau đây:

      • Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

      • Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    • Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

      • Có tổ chức;

      • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

      • Đối với 02 người trở lên;

      • Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

      • Đối với người đang thi hành công vụ;

      • Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

      • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

      • Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

    • Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

      • Vì động cơ đê hèn;

      • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

      • Làm nạn nhân tự sát.

    • Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Thủ tục khởi kiện khi bị xúc phạm, vu khống trên mạng xã hội

    Trình tự, thủ tục khởi kiện người xúc phạm, vu khống mình trên mạng xã hội gồm các bước như sau: 

    Bước 1: Nộp đơn khởi kiện

    Người khởi kiện có thể nộp đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ (chứng minh hành vi xúc phạm, vu khống trên mạng xã hội của người bị kiện, chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra) đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng 01 trong 03 cách được quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, gồm:

    1. Nộp trực tiếp tại Tòa án;

    2. Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

    3. Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 

    Và theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về Tòa án theo lãnh thổ được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp nêu trên. 

    Như vậy, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị khởi kiện cư trú, làm việc. 

    Bước 2: Tòa án nhận đơn khởi kiện và phân công thẩm phán xem xét đơn

    Theo Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

    Nhận đơn:

    Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp và thông báo đã nhận đơn cho người khởi kiện:

    • Nếu đơn được nộp trực tiếp thì Tòa án phải cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện;

    • Nếu đơn được gửi qua dịch vụ bưu chính thì Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn;

    • Nếu đơn được nộp bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

    Phân công thẩm phán xem xét đơn:

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

    Thẩm phán xem xét đơn:

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

    • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

    • Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 5 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

    • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

    • Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

    Bước 3: Thụ lý vụ án

    Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về việc thụ lý vụ án, cụ thể:

    • Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu Thẩm phán xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì sẽ thông báo ngay cho người khởi kiện biết để đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí.

    • Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để nộp tiền tạm ứng án phí. 

    Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

    • Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

    Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

    Bước 4: Tiến hành hòa giải

    Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

    Việc tiến hành hòa giải được thực hiện theo các nguyên tắc được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, gồm:

    • Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;

    • Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

    Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, một trong các đương sự có quyền đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, nếu muốn bỏ qua bước này, đương sự có thể đề nghị không tiến hành hòa giải. 

    Đương sự có quyền đề nghị không tiến hành hòa giải

    Đương sự có quyền đề nghị không tiến hành hòa giải

    Bước 5: Chuẩn bị xét xử

    Thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó: 

    • Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

      • Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

      • Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

    Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

    Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    • Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

      • Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

      • Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

      • Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

      • Đưa vụ án ra xét xử.

    • Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

    Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án dân sự yêu cầu Tòa án xét xử về việc bị bôi nhọ, xúc phạm, vu khống trên mạng xã hội có thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài.

    Bước 6: Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm

    Theo Điều 222 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.

    Chi phí nộp đơn khởi kiện và các khoản phí phát sinh

    Án phí dân sự sơ thẩm (trong trường hợp yêu cầu bồi thường)

    Theo khoản 3 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, trong trường hợp người bị bôi nhọ, vu khống trên mạng xã hội khởi kiện, yêu cầu bồi thường số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể thì đây là vụ án dân sự có giá ngạch. 

    Do đó, căn cứ vào tiểu mục 1.3 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, mức án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch được quy định như sau

    • Đối với tranh chấp có giá ngạch từ 6.000.000 đồng trở xuống: mức án phí 300.000 đồng;

    • Tranh chấp có giá ngạch từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng: mức án phí 5% giá trị tài sản có tranh chấp;

    • Tranh chấp có giá ngạch từ trên 400.000.000 đến 800.000.000 đồng: mức án phí 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng;

    • Tranh chấp có giá ngạch từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng: mức án phí là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng;

    • Tranh chấp có giá ngạch từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng: mức án phí là 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng;

    • Tranh chấp có giá ngạch từ trên 4.000.000.000 đồng: mức án phí là 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

    Trường hợp tố giác tội phạm hình sự thì có đóng án phí hình sự sơ thẩm không?

    Theo điểm a và điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định:

    • Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. 

    • Bị hại có yêu cầu khởi tố chỉ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp:

      • vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà sau đó Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội; hoặc 

      • vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. 

    Như vậy, bị hại có yêu cầu khởi tố sẽ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nếu không thuộc 02 trường hợp nêu trên.

    Chi phí khác: phí luật sư nếu có nhu cầu thuê tư vấn, đại diện

    Ngoài các khoản án phí, lệ phí theo quy định, người khởi kiện trong vụ việc bôi nhọ, vu khống trên mạng xã hội còn có thể phát sinh thêm chi phí khác, cụ thể là phí thuê luật sư trong trường hợp có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn, soạn thảo hồ sơ hoặc đại diện, bảo vệ khi tham gia tố tụng. Đây là khoản chi phí tự nguyện, không bắt buộc, nhưng thường được nhiều người lựa chọn để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ tốt nhất trong quá trình giải quyết vụ án.

    LHLegal - Đồng hành pháp lý cùng bạn bảo vệ danh dự trên không gian mạng

    Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực tư vấn và giải quyết tranh chấp, LHLegal hiểu rõ những rủi ro mà cá nhân, tổ chức có thể đối diện khi bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín trên không gian mạng. Chúng tôi không chỉ hỗ trợ khách hàng nhận diện hành vi vi phạm, thu thập và củng cố chứng cứ, mà còn đại diện làm việc với cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

    Đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý tại LHLegal luôn lấy phương châm “Chính trực và Công bằng” làm nền tảng, đặt trọng tâm vào việc bảo vệ danh dự và khẳng định giá trị của khách hàng trong mọi vụ việc. Bằng sự am hiểu pháp luật, kinh nghiệm thực tiễn và tinh thần tận tâm, chúng tôi cam kết mang đến giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

    LHLegal chính là điểm tựa pháp lý tin cậy, giúp bạn vững vàng bảo vệ danh dự, hình ảnh và uy tín của mình trước cộng đồng trong bối cảnh các hành vi bôi nhọ, xúc phạm, lan truyền thông tin sai sự thật trên mạng ngày càng gia tăng.

    Nếu có bất kỳ thắc mắc hay cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ chúng tôi qua các hình thức sau:

    Hotline gặp Luật sư tư vấn trực tiếp: 1900 2929 01

    Nhập thông tin đăng ký tư vấn luật tại đây: https://luatsulh.com/dang-ky-tu-van.html

    Liên hệ đặt lịch hẹn qua zalo số: 0903 796 830

    Website: https://luatsulh.com/

    Trụ sở: 288 B7 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: 288 B7 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP.HCM)

    Chi nhánh Nha Trang: 07 Bế Văn Đàn, Phường Nam Nha Trang, Tỉnh Khánh Hòa (Địa chỉ cũ: 07 Bế Văn Đàn, Phường Phước Long, Thành phố Nha Trang)

    Theo dõi Công ty Luật LHLegal tại:

    Website: https://luatsulh.com/

    Facebook: Luật sư LHLegal

    Youtube: Luật sư LHLegal

    Kênh Tiktok Luật sư Hoà: Luật sư Hoà (LHLegal)

    Kênh Tiktok Công ty: Luật sư LHLegal

    Kênh Tiktok Luật sư Hình sự: Luật sư Hình sự

    Kênh Zalo OA

    Kênh Zalo OA

    Hồ sơ năng lực LHLegal

    Hồ sơ năng lực LHLegal

    Chia sẻ:
    Người đăng: LHLegal
    Facebook chat